Hạ Long Media

Dân Tộc Sán Chỉ ở Quảng Ninh và nét đẹp văn hóa đặc sắc

Ngày đăng: 12/12/2024Cập nhật: 19/07/2026 25 phút đọc Tác giả: Lê Cảnh
Dân Tộc Sán Chỉ ở Quảng Ninh và nét đẹp văn hóa đặc sắc

Người Sán Chỉ ở Quảng Ninh là một cộng đồng cư trú lâu đời tại nhiều vùng miền núi, biên giới của tỉnh, tập trung nổi bật ở khu vực Bình Liêu, Đông Ngũ, Ba Chẽ, Đầm Hà, Hải Hà và Móng Cái. Trong đời sống thường ngày, cộng đồng vẫn bảo lưu nhiều giá trị đặc sắc như tiếng nói, hát giao duyên Soóng cọ, kiến trúc nhà ở, trang phục chàm, nghi lễ cầu mùa và các hình thức sinh hoạt cộng đồng.

Cần hiểu chính xác rằng theo hệ thống 54 dân tộc của Việt Nam, Sán Chỉ là một nhóm địa phương thuộc dân tộc Sán Chay, cùng với nhóm Cao Lan. Tuy nhiên, tên gọi “người Sán Chỉ” vẫn được sử dụng phổ biến trong đời sống, nghiên cứu văn hóa và các hồ sơ di sản để chỉ cộng đồng có tiếng nói, phong tục và không gian cư trú riêng.

Bài viết dưới đây cập nhật lại số liệu dân số, địa bàn hành chính sau năm 2025, đặc điểm nhà ở, trang phục, hát Soóng cọ, bóng đá nữ và công tác bảo tồn văn hóa Sán Chỉ tại Quảng Ninh.

Thông tin nhanh về người Sán Chỉ ở Quảng Ninh

  • Phân loại chính thức: Sán Chỉ là một trong hai nhóm địa phương của dân tộc Sán Chay; nhóm còn lại là Cao Lan.
  • Ngôn ngữ: Tiếng Sán Chỉ thuộc nhóm ngôn ngữ Hán của ngữ hệ Hán – Tạng.
  • Dân số tham khảo: Tổng điều tra năm 2019 ghi nhận dân tộc Sán Chay tại Quảng Ninh có 16.346 người, gồm cả Cao Lan và Sán Chỉ.
  • Tỷ lệ cần hiểu đúng: 12,31% là tỷ lệ của toàn bộ dân tộc thiểu số trong dân số Quảng Ninh, không phải tỷ lệ riêng của người Sán Chỉ.
  • Địa bàn tập trung trước năm 2025: Húc Động thuộc Bình Liêu và Đại Dực thuộc Tiên Yên.
  • Địa bàn hiện hành: Húc Động đã thuộc xã Bình Liêu; phần lớn Đại Dực đã thuộc xã Đông Ngũ sau sắp xếp hành chính năm 2025.
  • Sinh kế truyền thống: Trồng lúa, ngô, cây lâm nghiệp, chăn nuôi, đan lát và các hoạt động sản xuất nông – lâm nghiệp.
  • Di sản tiêu biểu: Hát Soóng cọ, nghệ thuật may trang phục truyền thống và Lễ cầu mùa.
  • Hoạt động văn hóa – thể thao nổi bật: Bóng đá nữ Sán Chỉ trong trang phục truyền thống.
  • Không gian du lịch cộng đồng: Vùng Húc Động cũ thuộc xã Bình Liêu và vùng Đại Dực cũ thuộc xã Đông Ngũ.

Người Sán Chỉ là dân tộc hay nhóm địa phương?

Trong giao tiếp hằng ngày, báo chí và các hoạt động văn hóa, cụm từ “dân tộc Sán Chỉ” được sử dụng rất phổ biến. Cách gọi này giúp nhận diện rõ một cộng đồng có tiếng nói, trang phục, dân ca và phong tục riêng.

Tuy nhiên, theo danh mục 54 dân tộc Việt Nam, tên chính thức của dân tộc là Sán Chay. Dân tộc Sán Chay gồm hai nhóm địa phương là Cao Lan và Sán Chỉ.

Điểm đặc biệt là ngôn ngữ của hai nhóm có sự khác biệt đáng kể. Tiếng Cao Lan thuộc nhóm ngôn ngữ Tày – Thái, còn tiếng Sán Chỉ thuộc nhóm ngôn ngữ Hán của ngữ hệ Hán – Tạng. Sự khác biệt này cho thấy quá trình lịch sử và giao lưu văn hóa phức tạp của cộng đồng Sán Chay.

Vì vậy, khi viết bài phổ thông có thể dùng “người Sán Chỉ” hoặc “cộng đồng Sán Chỉ”. Khi trình bày số liệu dân số chính thức, cần ghi rõ số liệu thường được thống kê dưới tên dân tộc Sán Chay, gồm Cao Lan và Sán Chỉ.

Cách diễn đạt chính xác nhất: Người Sán Chỉ là một nhóm địa phương thuộc dân tộc Sán Chay trong hệ thống phân loại chính thức của Việt Nam. Tên gọi Sán Chỉ vẫn có giá trị để nhận diện cộng đồng văn hóa cụ thể.

Người Sán Chỉ chiếm bao nhiêu dân số Quảng Ninh?

Bài viết cũ cho rằng người Sán Chỉ chiếm khoảng 12% dân số toàn tỉnh. Đây là sự nhầm lẫn giữa tỷ lệ của toàn bộ dân tộc thiểu số và tỷ lệ của riêng cộng đồng Sán Chỉ.

Theo kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019, Quảng Ninh có 1.320.324 người. Trong đó, 42 thành phần dân tộc thiểu số có 162.531 người, chiếm 12,31% dân số toàn tỉnh.

Dân tộc Sán Chay, gồm cả hai nhóm Cao Lan và Sán Chỉ, có 16.346 người tại Quảng Ninh. Nếu tính từ hai số liệu trên, dân tộc Sán Chay chiếm khoảng 1,24% dân số toàn tỉnh. Số liệu công khai không tách riêng đầy đủ dân số nhóm Sán Chỉ và nhóm Cao Lan, vì vậy không nên dùng 16.346 người như dân số riêng của Sán Chỉ.

Nhóm dân sốSố người năm 2019Tỷ lệ hoặc cách hiểu
Dân số Quảng Ninh1.320.324Tổng dân số toàn tỉnh
Toàn bộ dân tộc thiểu số162.531Chiếm 12,31% dân số tỉnh
Dân tộc Sán Chay16.346Gồm hai nhóm Cao Lan và Sán Chỉ
Riêng nhóm Sán ChỉChưa có số tách riêng trong nguồn công khai được sử dụngKhông nên khẳng định chiếm 12% dân số tỉnh

Người đọc muốn nhìn rộng hơn về cơ cấu cư dân có thể tham khảo bài các dân tộc thiểu số ở Quảng Ninh. Khi so sánh dữ liệu giữa các bài, cần chú ý năm thống kê và việc tên dân tộc hay nhóm địa phương được sử dụng.

Người Sán Chỉ ở Quảng Ninh sinh sống tại đâu?

Cộng đồng Sán Chỉ phân bố tại nhiều địa phương miền núi phía Đông của tỉnh. Những khu vực được nhắc đến nhiều nhất là Húc Động thuộc Bình Liêu cũ và Đại Dực thuộc Tiên Yên cũ.

Ngoài hai vùng tập trung này, người Sán Chỉ còn cư trú tại Ba Chẽ, Đầm Hà, Hải Hà, Móng Cái và một số địa bàn khác. Nhiều cộng đồng sống thành thôn, bản nhỏ, xen cư với người Tày, Dao, Kinh và các dân tộc khác.

Húc Động hiện thuộc xã Bình Liêu

Từ ngày 1/7/2025, xã Bình Liêu mới được thành lập trên cơ sở sáp nhập thị trấn Bình Liêu, xã Húc Động và xã Vô Ngại. Vì vậy, những địa danh như thác Khe Vằn, đồi cỏ, bản Lục Ngù và cộng đồng Sán Chỉ của Húc Động hiện được giới thiệu dưới địa chỉ xã Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh.

Xã Bình Liêu mới có trên 92% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số, chủ yếu gồm Tày, Dao, Sán Chỉ và Kinh. Đây là một trong những không gian văn hóa đa dân tộc tiêu biểu ở vùng biên giới Đông Bắc.

Đại Dực hiện chủ yếu thuộc xã Đông Ngũ

Xã Đông Ngũ mới được thành lập từ ngày 1/7/2025 trên cơ sở sáp nhập xã Đông Ngũ, xã Đông Hải và phần lớn xã Đại Dực, trừ thôn Khe Mươi. Vì vậy, Nhà văn hóa dân tộc Sán Chỉ và nhiều cộng đồng trước đây được giới thiệu tại xã Đại Dực hiện thuộc địa bàn xã Đông Ngũ.

Vùng Đại Dực cũ từng có gần 90% dân số là người Sán Chỉ, với hơn 300 hộ cư trú trên các triền núi và thung lũng. Đây là nơi còn bảo lưu nhà sàn, trang phục, hát Soóng cọ và nhiều hoạt động cộng đồng.

Khi ghi địa chỉ hiện nay: Húc Động cũ thuộc xã Bình Liêu; phần lớn Đại Dực cũ thuộc xã Đông Ngũ. Trong nội dung lịch sử có thể giữ tên địa phương cũ nhưng cần chú thích để người đọc không tìm sai địa chỉ.

Cộng đồng người Sán Chỉ tại vùng miền núi Quảng Ninh
Người Sán Chỉ cư trú tập trung tại vùng Húc Động cũ và Đại Dực cũ, đồng thời có mặt ở nhiều địa phương miền Đông Quảng Ninh.

Lịch sử và ngôn ngữ của người Sán Chỉ

Tư liệu giới thiệu về dân tộc Sán Chay cho rằng tổ tiên cộng đồng di cư từ Trung Quốc sang Việt Nam khoảng 400 năm trước. Qua nhiều thế hệ, người Sán Chỉ đã định cư tại vùng trung du và miền núi phía Bắc, thích nghi với môi trường tự nhiên và xây dựng đời sống cộng đồng ổn định.

Tại Quảng Ninh, quá trình cư trú gắn với sản xuất nông nghiệp, khai thác lâm sản, chăn nuôi và giao lưu với các dân tộc cùng địa bàn. Những thung lũng, sườn đồi và khu vực gần nguồn nước được lựa chọn để dựng nhà, làm ruộng và phát triển bản làng.

Tiếng Sán Chỉ thuộc nhóm ngôn ngữ Hán, ngữ hệ Hán – Tạng. Đây là một trong những yếu tố quan trọng để phân biệt nhóm Sán Chỉ với nhóm Cao Lan trong cùng dân tộc Sán Chay.

Trong đời sống hiện đại, người Sán Chỉ sử dụng tiếng Việt trong trường học, hành chính và giao tiếp xã hội; tiếng mẹ đẻ vẫn được dùng trong gia đình, hát giao duyên, nghi lễ và sinh hoạt cộng đồng. Nguy cơ mai một xuất hiện khi trẻ em ít sử dụng tiếng Sán Chỉ trong giao tiếp hằng ngày.

Người Sán Chỉ không có hệ chữ viết phổ thông riêng được sử dụng rộng rãi như chữ Quốc ngữ. Trong truyền thống, một số thầy cúng sử dụng chữ Hán hoặc hệ thống chữ Nôm dựa trên chữ Hán để ghi chép sách cúng, bài hát và tri thức nghi lễ.

Việc bảo tồn tiếng nói cần được thực hiện cùng với ghi âm lời kể, phiên âm hát Soóng cọ, lưu trữ sách cổ và tạo môi trường để trẻ em giao tiếp với người cao tuổi.

Đời sống sản xuất và tính cộng đồng

Người Sán Chỉ là cư dân nông nghiệp, có truyền thống định canh, định cư và gắn bó lâu dài với bản làng. Sinh kế phổ biến gồm trồng lúa nước, lúa nương, ngô, cây lâm nghiệp, chăn nuôi gia súc, gia cầm và khai thác sản vật địa phương.

Địa hình miền núi khiến việc tổ chức sản xuất cần sự hợp tác giữa các gia đình. Hoạt động làm nhà, thu hoạch, tổ chức đám cưới, tang lễ và lễ hội thường có sự giúp đỡ của họ hàng, hàng xóm.

Một số nghề thủ công như đan lát, mộc, may trang phục và chế biến thực phẩm trước đây chủ yếu phục vụ nhu cầu gia đình. Khi du lịch cộng đồng phát triển, những tri thức này có thể trở thành sản phẩm trải nghiệm và tạo thêm thu nhập.

Tuy nhiên, không nên mô tả cộng đồng như một không gian tự cấp, tự túc bất biến. Người Sán Chỉ hiện tham gia nhiều ngành nghề, sử dụng công nghệ, kinh doanh dịch vụ và tiếp cận giáo dục như các cộng đồng khác. Văn hóa truyền thống tiếp tục tồn tại song song với quá trình hiện đại hóa.

Kiến trúc nhà ở của người Sán Chỉ

Nhà ở của người Sán Chỉ có sự khác nhau theo địa phương, điều kiện kinh tế và vật liệu sẵn có. Vì vậy, không nên khẳng định mọi gia đình Sán Chỉ tại Quảng Ninh đều sống trong cùng một kiểu nhà bốn mái.

Tại vùng Đại Dực cũ, nhà sàn hai mái được xem là kiểu kiến trúc đặc trưng. Nhà thường sử dụng hệ khung gỗ, tường bằng gạch đất hoặc vật liệu địa phương, mái lợp ngói âm dương.

Tư liệu địa phương ghi nhận nhà sàn có thể cao khoảng 5–7m. Nhà ba gian thường có bốn vì cột, mỗi vì gồm năm, bảy hoặc chín cột tùy quy mô. Gỗ làm nhà được chọn từ những loại chắc, liên kết bằng mộng và chốt.

Phần sàn nâng cao giúp hạn chế độ ẩm, tạo khoảng trống để cất nông cụ, vật liệu hoặc phục vụ sản xuất. Bếp và bàn thờ giữ vai trò quan trọng trong không gian sinh hoạt, phản ánh mối quan hệ giữa gia đình với tổ tiên.

Một số ngôi nhà có tường rào xếp đá, sân rộng và khu vực chứa nước, xay thóc, giã gạo. Cách tổ chức không gian thể hiện sự thích nghi với địa hình, nguồn nước và hoạt động nông nghiệp.

Số lượng nhà truyền thống giảm do chi phí bảo trì, khan hiếm vật liệu và nhu cầu xây nhà hiện đại. Một số công trình tại vùng Đại Dực cũ đã được phục dựng thành homestay, giữ sàn gỗ, tường gạch đất và mái ngói âm dương để giới thiệu văn hóa địa phương.

Nhà truyền thống của người Sán Chỉ tại Quảng Ninh
Nhà ở truyền thống của người Sán Chỉ tại vùng Đại Dực cũ thường kết hợp khung gỗ, sàn cao, tường đất và mái ngói âm dương.

Trang phục truyền thống của người Sán Chỉ

Trang phục Sán Chỉ có phong cách mộc mạc, sử dụng các gam chàm, xanh đậm và đen, phù hợp với lao động trong môi trường miền núi. Vẻ đẹp không nằm ở số lượng hoa văn dày đặc mà ở đường cắt, cách phối lớp áo, váy, khăn và trang sức.

Trang phục nữ

Phụ nữ thường mặc áo màu xanh hoặc chàm, váy đen, vấn tóc hoặc đội khăn, kết hợp vòng cổ, vòng tay và đồ trang sức bằng bạc trong dịp lễ hội. Trang phục có thể thay đổi theo tuổi, hoàn cảnh và từng vùng cư trú.

Hình ảnh áo xanh, váy đen và mấn đội đầu trở thành dấu hiệu nhận diện nổi bật trong các giải bóng đá nữ Sán Chỉ tại Bình Liêu.

Trang phục nam

Nam giới truyền thống thường mặc áo chàm, quần rộng, thiết kế thuận tiện cho lao động, đi rừng và di chuyển trên địa hình đồi núi. Trong đời sống thường ngày, trang phục hiện đại đã phổ biến hơn; bộ đồ truyền thống chủ yếu xuất hiện vào ngày hội, nghi lễ và hoạt động trình diễn.

Tri thức may trang phục được công nhận di sản

Ngày 3/6/2025, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa tri thức dân gian nghệ thuật may trang phục truyền thống của người Sán Chỉ vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Danh hiệu ghi nhận không chỉ bộ quần áo hoàn chỉnh mà còn toàn bộ tri thức liên quan đến lựa chọn vải, cắt, khâu, phối màu, mặc trang phục và trao truyền kỹ năng giữa các thế hệ.

Bảo tồn trang phục không nên dừng ở việc mặc vào ngày lễ. Cần duy trì người biết may, nguồn vật liệu, lớp truyền dạy và khả năng sử dụng trang phục một cách tự nhiên trong đời sống cộng đồng.

Hát Soóng cọ – tiếng hát giao duyên của người Sán Chỉ

Soóng cọ có nghĩa là ca hát, hát đối hoặc hát giao duyên. Đây là hình thức sinh hoạt văn hóa tiêu biểu, giúp người Sán Chỉ bày tỏ tình cảm, kết bạn, trao đổi kinh nghiệm sống và gắn kết cộng đồng.

Lời hát thường được cấu tạo theo thể thất ngôn tứ tuyệt, mỗi khổ gồm bốn câu, mỗi câu bảy tiếng. Ca từ sử dụng hình ảnh núi rừng, trăng sao, hoa lá, dòng suối và hoạt động lao động để ví von tình cảm con người.

Soóng cọ thường không sử dụng nhạc đệm. Người hát cần nhớ lời, biết ứng đối và lựa chọn hình ảnh phù hợp với câu hỏi của bên kia. Một cuộc hát có thể kéo dài nhiều giờ, thậm chí suốt đêm.

Các hoàn cảnh hát Soóng cọ

  • Hát giao duyên: Nam nữ tìm hiểu, kết bạn và bày tỏ tình cảm.
  • Hát trong lễ hội: Giao lưu giữa các bản và cộng đồng Sán Chỉ ở nhiều địa phương.
  • Hát trong đám cưới: Chúc mừng đôi trẻ, đón khách và đối đáp giữa họ nhà trai, nhà gái.
  • Hát khi lao động, nghỉ ngơi: Chia sẻ tâm tình và làm nhẹ nhọc công việc.
  • Hát mừng nhà mới, chúc thọ: Gửi lời chúc tốt đẹp tới gia đình.

Ngày 10/11/2023, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Quyết định số 3421/QĐ-BVHTTDL đưa Nghệ thuật trình diễn dân gian hát Soóng cọ của người Sán Chỉ tỉnh Quảng Ninh vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Phạm vi di sản được công nhận gồm các địa phương Bình Liêu, Ba Chẽ, Đầm Hà, Tiên Yên và Móng Cái theo địa giới tại thời điểm lập hồ sơ.

Người Sán Chỉ biểu diễn hát Soóng cọ tại Quảng Ninh
Soóng cọ là hình thức hát đối, hát giao duyên tiêu biểu và đã được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Không nên nhầm: Soóng cọ là di sản của người Sán Chỉ; Soọng cô thuộc người Sán Dìu; Then gắn với cộng đồng Tày, Nùng, Thái. Mỗi loại hình có ngôn ngữ, kỹ thuật và bối cảnh riêng.

Để so sánh với một thực hành tín ngưỡng khác của vùng Bình Liêu, người đọc có thể tìm hiểu Lễ then cổ của người Tày.

Hội Soóng cọ và đồi Tình

Hội Soóng cọ, còn được gọi là hội tháng Ba, là ngày hội quan trọng của cộng đồng Sán Chỉ. Đây là dịp gặp gỡ, hát giao duyên, thi đấu thể thao, trình diễn trang phục, trò chơi dân gian và giới thiệu ẩm thực địa phương.

Tại vùng Húc Động cũ, Hội Soóng cọ được phục dựng và tổ chức bài bản từ năm 2005. Không gian đồi cỏ, thác Khe Vằn và các bản Sán Chỉ tạo điều kiện để ngày hội kết hợp văn hóa với du lịch cộng đồng.

Đồi Tình là địa danh gắn với ký ức giao duyên giữa người Sán Chỉ của Húc Động và Đại Dực. Theo câu chuyện địa phương, thanh niên hai vùng từng gặp nhau trên đồi, hát Soóng cọ và nhiều đôi nên duyên từ những cuộc hát.

Không nên coi mọi câu chuyện tình trên đồi là tư liệu lịch sử có thể kiểm chứng từng chi tiết. Giá trị chính của địa danh nằm ở ký ức cộng đồng về không gian gặp gỡ, giao lưu giữa hai vùng cư trú Sán Chỉ.

Năm 2026, Ngày hội Soóng cọ tại xã Bình Liêu tiếp tục tổ chức giao lưu hát, trò chơi dân gian và bóng đá nữ giữa xã Bình Liêu với xã Đông Ngũ, cho thấy mối liên hệ văn hóa giữa Húc Động và Đại Dực vẫn được duy trì sau sắp xếp hành chính.

Lễ cầu mùa của người Sán Chỉ

Lễ cầu mùa phản ánh đời sống của một cộng đồng gắn với nông nghiệp. Người dân tổ chức nghi lễ để cầu thời tiết thuận lợi, cây trồng phát triển, gia súc khỏe mạnh, bản làng bình an và mùa màng đủ đầy.

Nghi lễ có thể bao gồm chuẩn bị lễ vật, cúng thần linh, tổ tiên, thần nông nghiệp và tổ chức sinh hoạt cộng đồng. Trình tự, tên gọi và lễ vật có thể khác nhau giữa từng địa phương.

Ngày 3/6/2025, tập quán xã hội và tín ngưỡng Lễ cầu mùa của người Sán Chỉ được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Việc ghi danh khẳng định nghi lễ không chỉ là hoạt động tín ngưỡng mà còn lưu giữ tri thức nông nghiệp, quan hệ cộng đồng, ẩm thực, tiếng nói và các quy tắc ứng xử với thiên nhiên.

Khi giới thiệu lễ cầu mùa cho du khách, cần phân biệt phần nghi lễ thiêng với phần hội. Không nên yêu cầu người dân thực hiện lại nghi thức chỉ để quay phim hoặc tạo tiết mục sân khấu.

Bóng đá nữ Sán Chỉ – nét văn hóa đương đại độc đáo

Bóng đá nữ Sán Chỉ không phải phong tục cổ truyền có từ hàng trăm năm. Đây là một sáng kiến văn hóa – du lịch đương đại, bắt đầu tại Húc Động vào năm 2017.

Ý tưởng để phụ nữ mặc trang phục truyền thống thi đấu bóng đá được anh Sằn A Tám, khi đó là cán bộ Đoàn xã Húc Động, khởi xướng. Hoạt động nhanh chóng thu hút người dân và du khách bởi sự kết hợp giữa thể thao hiện đại với hình ảnh áo xanh, váy đen, mấn truyền thống.

Từ một trận giao lưu địa phương, bóng đá nữ Sán Chỉ phát triển thành sản phẩm du lịch của Bình Liêu. Các đội tại Bình Liêu và Tiên Yên cũ tham gia giải, giao lưu trong Hội Soóng cọ, Hội Mùa vàng và sự kiện văn hóa của tỉnh.

Năm 2024, giải bóng đá nữ dân tộc thiểu số tỉnh Quảng Ninh có 120 vận động viên thuộc bảy đội đến từ Bình Liêu và Tiên Yên. Năm 2026, giao lưu bóng đá nữ Sán Chỉ giữa xã Bình Liêu và xã Đông Ngũ tiếp tục được tổ chức.

Hoạt động này thể hiện khả năng làm mới di sản mà không nhất thiết biến mọi giá trị thành bản sao của quá khứ. Điều quan trọng là người phụ nữ tham gia tự nguyện, trang phục được sử dụng phù hợp và lợi ích du lịch quay trở lại cộng đồng.

Phụ nữ Sán Chỉ mặc trang phục truyền thống thi đấu bóng đá
Bóng đá nữ Sán Chỉ được khởi xướng năm 2017 và trở thành sản phẩm văn hóa – du lịch nổi bật của vùng Bình Liêu.

Ẩm thực và sản vật trong không gian văn hóa Bình Liêu

Ẩm thực tại vùng cư trú Sán Chỉ chịu ảnh hưởng của điều kiện miền núi, nguồn nguyên liệu nông nghiệp và sự giao lưu giữa nhiều dân tộc. Cơm, rau rừng, thịt lợn, gà, cá suối, các loại bánh và sản vật theo mùa tạo nên bữa ăn gia đình.

Không nên gán mọi món ăn nổi tiếng ở Bình Liêu là đặc sản riêng của người Sán Chỉ. Bình Liêu là không gian cùng sinh sống của người Tày, Dao, Sán Chỉ và Kinh; nhiều món được chia sẻ, giao lưu hoặc gắn với một cộng đồng cụ thể.

Ví dụ, bánh coóc mò Bình Liêu thường gắn với văn hóa người Tày. Miến dong Bình Liêu là sản phẩm địa phương được nhiều cộng đồng cùng tham gia sản xuất và phát triển.

Khi xây dựng tour văn hóa Sán Chỉ, đơn vị tổ chức nên hỏi rõ món nào do gia đình Sán Chỉ chế biến, câu chuyện của món và hoàn cảnh sử dụng, thay vì chỉ dùng nhãn “ẩm thực dân tộc” cho mọi món ăn vùng cao.

Những giá trị đang đứng trước nguy cơ mai một

Tiếng mẹ đẻ

Trẻ em sử dụng tiếng Việt nhiều hơn trong học tập và môi trường số, làm giảm cơ hội giao tiếp bằng tiếng Sán Chỉ.

Lời hát Soóng cọ cổ

Nghệ nhân cao tuổi nhớ nhiều bài và cách ứng đối, nhưng người trẻ thường chỉ học các đoạn ngắn để biểu diễn.

Tri thức may trang phục

Trang phục may sẵn thuận tiện hơn, trong khi kỹ thuật cắt, khâu thủ công cần nhiều thời gian và người truyền dạy.

Nhà ở truyền thống

Nhà gỗ, tường đất và ngói âm dương tốn chi phí bảo trì, không luôn phù hợp nhu cầu sinh hoạt hiện đại.

Sách cúng và tư liệu chữ cổ

Tài liệu nằm trong gia đình thầy cúng, dễ hư hỏng và khó đọc nếu không còn người biết chữ.

Không gian thực hành

Đô thị hóa, thay đổi sinh kế và sân khấu hóa lễ hội có thể làm di sản rời khỏi bối cảnh cộng đồng.

Bảo tồn văn hóa Sán Chỉ tại Quảng Ninh

Duy trì Hội Soóng cọ và câu lạc bộ

Hội Soóng cọ tạo không gian để nghệ nhân, thanh niên và cộng đồng nhiều địa phương gặp gỡ. Câu lạc bộ giúp việc truyền dạy diễn ra thường xuyên hơn thay vì chỉ luyện tập trước ngày hội.

Ghi âm và phiên âm lời hát

Soóng cọ có tính ứng đối và số lượng lời hát lớn. Công tác bảo tồn cần ghi âm giọng nghệ nhân, phiên âm tiếng Sán Chỉ, dịch nghĩa và ghi rõ hoàn cảnh sử dụng của từng bài.

Truyền dạy may trang phục

Sau khi nghệ thuật may trang phục được công nhận di sản quốc gia, cần tiếp tục mở lớp học, hỗ trợ vật liệu và tạo cơ hội để người học sử dụng sản phẩm trong đời sống, không chỉ trưng bày.

Bảo tồn nhà ở có chọn lọc

Không thể yêu cầu mọi gia đình giữ nguyên nhà cũ nếu không còn phù hợp. Giải pháp thực tế là lựa chọn công trình tiêu biểu để tu bổ, hỗ trợ chủ nhà và xây dựng mô hình homestay tôn trọng kiến trúc gốc.

Gắn bảo tồn với sinh kế

Du lịch cộng đồng có thể tạo nguồn thu từ biểu diễn, hướng dẫn, lưu trú, ẩm thực, may trang phục và bán sản phẩm. Cộng đồng cần tham gia quyết định nội dung và được hưởng lợi minh bạch.

Giáo dục thế hệ trẻ

Trường học và gia đình có thể tổ chức giờ học tiếng, nghe nghệ nhân kể chuyện, thực hành hát, tìm hiểu trang phục và tham gia trò chơi dân gian. Việc học nên tạo niềm tự hào thay vì trở thành nhiệm vụ hình thức.

“Văn hóa Sán Chỉ chỉ thực sự được bảo tồn khi người trẻ vẫn muốn nói tiếng của ông bà, hiểu ý nghĩa bộ trang phục và có thể hát đối với nhau ngoài sân khấu. Du lịch có thể tạo thêm động lực, nhưng cộng đồng phải là người quyết định di sản được giới thiệu như thế nào và lợi ích được chia sẻ ra sao.”

CEO Lê Cảnh – Hạ Long Media

Kinh nghiệm tìm hiểu văn hóa Sán Chỉ dành cho du khách

  • Kiểm tra địa chỉ mới: Húc Động cũ hiện thuộc xã Bình Liêu; phần lớn Đại Dực cũ hiện thuộc xã Đông Ngũ.
  • Theo dõi lịch ngày hội: Lịch Soóng cọ và các hoạt động văn hóa có thể thay đổi từng năm.
  • Xin phép trước khi chụp: Đặc biệt với người cao tuổi, trẻ em, không gian thờ tự và nghi lễ.
  • Không mặc trang phục tùy tiện: Khi thuê hoặc được hướng dẫn mặc, cần sử dụng đúng cách và không tạo tư thế phản cảm.
  • Không yêu cầu hát miễn phí: Nên tôn trọng thời gian và trả công phù hợp cho nghệ nhân.
  • Phân biệt biểu diễn và nghi lễ: Một tiết mục trên sân khấu không đại diện toàn bộ thực hành văn hóa.
  • Không gọi mọi món ăn là đặc sản Sán Chỉ: Hỏi rõ nguồn gốc và cộng đồng gắn với món.
  • Tôn trọng nhà dân: Không tự ý vào nhà, chạm bàn thờ, mở đồ dùng hoặc quay phòng ngủ.
  • Hạn chế rác thải: Giữ gìn cảnh quan thác, đồi cỏ, bản làng và khu tổ chức lễ hội.

Trải nghiệm tốt không phụ thuộc vào việc chụp được bao nhiêu ảnh mà nằm ở khả năng lắng nghe câu chuyện của người dân, hiểu sự khác biệt giữa các dân tộc và ứng xử tôn trọng.

Câu hỏi thường gặp về người Sán Chỉ ở Quảng Ninh

Sán Chỉ có phải một dân tộc riêng trong 54 dân tộc Việt Nam không?

Theo phân loại chính thức, Sán Chỉ là một nhóm địa phương thuộc dân tộc Sán Chay, cùng với nhóm Cao Lan. Trong đời sống và nghiên cứu văn hóa, tên người Sán Chỉ vẫn được sử dụng phổ biến.

Người Sán Chỉ có chiếm 12% dân số Quảng Ninh không?

Không. 12,31% là tỷ lệ của toàn bộ 42 thành phần dân tộc thiểu số trong dân số tỉnh theo Tổng điều tra năm 2019. Dân tộc Sán Chay, gồm Cao Lan và Sán Chỉ, có 16.346 người, khoảng 1,24% dân số tỉnh.

Người Sán Chỉ sống tập trung ở đâu?

Các vùng tập trung tiêu biểu là Húc Động cũ, hiện thuộc xã Bình Liêu, và Đại Dực cũ, hiện phần lớn thuộc xã Đông Ngũ. Cộng đồng còn cư trú tại Ba Chẽ, Đầm Hà, Hải Hà, Móng Cái và một số nơi khác.

Hát Soóng cọ là gì?

Soóng cọ là hình thức hát đối, hát giao duyên của người Sán Chỉ, thường không có nhạc đệm. Lời hát dùng hình ảnh thiên nhiên và đời sống để bày tỏ tình cảm, kết bạn và chúc mừng.

Hát Soóng cọ được công nhận di sản khi nào?

Ngày 10/11/2023, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa Nghệ thuật trình diễn dân gian hát Soóng cọ của người Sán Chỉ tỉnh Quảng Ninh vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Trang phục Sán Chỉ có phải di sản quốc gia không?

Tri thức dân gian nghệ thuật may trang phục truyền thống của người Sán Chỉ được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia ngày 3/6/2025.

Lễ cầu mùa của người Sán Chỉ có ý nghĩa gì?

Lễ cầu mùa thể hiện mong ước thời tiết thuận lợi, mùa màng tốt, gia súc khỏe và bản làng bình an. Nghi lễ được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2025.

Bóng đá nữ Sán Chỉ có phải phong tục cổ không?

Không. Đây là sáng kiến văn hóa – du lịch được khởi xướng tại Húc Động vào năm 2017, kết hợp bóng đá hiện đại với trang phục truyền thống.

Nhà truyền thống của người Sán Chỉ có đặc điểm gì?

Kiểu nhà thay đổi theo địa phương. Tại Đại Dực cũ, nhà sàn hai mái, khung gỗ, tường gạch đất và mái ngói âm dương là hình thức tiêu biểu được ghi nhận.

Người Sán Chỉ – một sắc màu văn hóa đặc biệt của Quảng Ninh

Người Sán Chỉ ở Quảng Ninh góp phần tạo nên bức tranh văn hóa đa dạng của vùng miền núi, biên giới Đông Bắc. Từ nhà ở, trang phục, tiếng nói đến hát Soóng cọ, lễ cầu mùa và bóng đá nữ, mỗi giá trị đều phản ánh khả năng thích nghi, sáng tạo và gắn kết cộng đồng.

Khi tìm hiểu cộng đồng, cần sử dụng số liệu và tên gọi chính xác. Sán Chỉ là nhóm địa phương thuộc dân tộc Sán Chay; con số 12,31% là tỷ lệ của toàn bộ dân tộc thiểu số trong tỉnh, không phải tỷ lệ riêng của Sán Chỉ.

Việc ba giá trị gồm hát Soóng cọ, nghệ thuật may trang phục và Lễ cầu mùa được ghi danh di sản quốc gia tạo nền tảng quan trọng cho bảo tồn. Tuy nhiên, danh hiệu chỉ phát huy ý nghĩa khi tiếng nói tiếp tục được sử dụng, nghệ nhân có người kế cận và cộng đồng giữ vai trò chủ thể trong phát triển du lịch.

Nguồn tham khảo

  • Ủy ban Dân tộc. (2015). Người Sán Chay.
  • Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Quảng Ninh. (2025). Một số thông tin khái quát về người dân tộc thiểu số ở Quảng Ninh.
  • Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh. (2013). Luật tục của tộc người Sán Chỉ ở Bình Liêu.
  • Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh. (2023). Đại Dực gìn giữ nét đẹp văn hóa dân tộc Sán Chỉ.
  • Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. (2023). Quyết định số 3421/QĐ-BVHTTDL về việc đưa Nghệ thuật trình diễn dân gian hát Soóng cọ của người Sán Chỉ tỉnh Quảng Ninh vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
  • Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Ninh. (2025). Quảng Ninh có thêm bốn di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
  • Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh. (2025). Xã Bình Liêu: Kỳ vọng sự khởi sắc đột phá.
  • Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh. (2025). Đại hội đại biểu Đảng bộ xã Đông Ngũ lần thứ I, nhiệm kỳ 2025–2030.
  • Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh. (2021). Từ ý tưởng đến phát triển sản phẩm du lịch ở Bình Liêu.
  • Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh. (2026). Xây dựng đời sống văn hóa vững mạnh từ cơ sở.
Đánh giá post
Biên tập bởi

Lê Cảnh

CEO Hạ Long Media

Tôi là Lê Thị Cảnh - CEO của Hạ Long Media. Tôi là cử nhân học viện Báo Chí và Tuyên Truyền. Hiện tại tôi đang điều hành công ty Hạ Long Media hoạt động trong lĩnh vực Local Marketing cho doanh nghiệp Quảng Ninh và hỗ trợ tư vấn du lịch Việt - Trung. Rất hân hạnh được kết nối cùng quý anh chị để cùng phát triển cho tỉnh nhà Quảng Ninh.